Những điều cần biết về thờ, cúng, lễ

30-07-2016 by Admin | Posted in Văn hóa tâm linh No comments

Những điều cần biết về thờ, cúng, lễ. Có nhiều điều mà bạn vẫn chưa hiểu đối với văn hóa tâm linh này, thật sự chúng ta chỉ làm theo những bản năng mà chưa hiểu bản chất thật sự. Ở bài này chúng tôi sẽ phân tích rõ ràng hơn về vấn đề này

tho_cung_le_bai_2

Khái luận:

Cho đến nay, chưa có tư liệu nào chỉ rõ việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái được bắt đầu từ bao giờ, khởi nguồn từ đâu. Có thể suy đoán rằng: nơi nào có con người sinh sống và được tổ chức thành xã hội thì từ những hoạt động cộng đồng vui mừng tự phát ban đầu dần hình thành những nghi thức, trong đó có vấn đề này. Như vậy, có thể nói nó hiện hữu cùng với sự có mặt của con người ngay từ thuở sơ khai (trước cả tôn giáo) và đồng hành chưa biết tới bao giờ!

Tế lễ thờ phụng được hình thành, bổ sung, hoàn thiện, lưu truyền trong lòng dân nên đương nhiên có dị biệt từng vùng miền, dòng họ. Song giống nhau ở mục đích, tác dụng, nơi tiến hành. Với người Việt, đã trở thành “Lễ nghi phong hóa”, tức là cách thức bày ra trong sự cúng tế cho được trật tự, trang nghiêm, kính cẩn đã thành phong tục tập quán của cả dân tộc. Đó là vấn đề Tâm linh, là điều thiêng liêng thấm vào máu thịt mỗi người.

Trong xã hội Việt từ cổ đại đã tồn tại mối quan hệ sâu sắc xây dựng trên cơ sở huyết thống. Do vậy, việc thờ cúng, lễ bái đã được chắt lọc từ ngàn đời, được hấp thụ tinh hoa từ các tôn giáo và lân bang trở thành một trong những Gia Bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại mà lớp hậu sinh cần coi trọng, tất nhiên có cải tiến cho phù hợp với thời đại.

Ngoài thờ Tổ tiên, những người theo Phật giáo hay không theo tôn giáo nào ở ta còn thờ Thần linh, thờ Phật; thờ Thổ công – Thổ địa – Thổ kỳ (ba vị Thần coi việc nhà cửa trong mỗi gia đình, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nói nôm na là Ba vị Táo quân).

Nhưng người hiểu rõ ý nghĩa và giá trị vấn đề thì ít, người hiểu thiếu đầy đủ, lệch lạc, có thể coi thường nhưng cũng có khi thái quá lại lắm. Với những người xa quê lâu ngày, ông, bà, cha, mẹ mất sớm, trước vốn khó khăn nay mới đủ ăn thì càng lơ mơ về ý nghĩa, giá trị và cách thức của các “Lễ nghi phong hóa” thiêng liêng này. Khi “Phú quý sinh lễ nghĩa” nhưng ít người thấu tỏ, chỉ bảo chân tình lại “loạn thầy, bà”, lắm người “bỗng dưng được Cô cho lộc”…lại thêm sách báo không thiếu điều nhảm nhí, sao chép sai lạc đầy rẫy và theo trào lưu chung “thương mại hoá” hiện nay thì vấn đề Thờ, Cúng, Lễ, Bái dễ tạp nham, không tạo được niềm tin vững chắc cho thế hệ con trẻ.

Bên cạnh đó, trong thời “kinh tế mở” đã xuất hiện ngày càng lắm người lợi dụng niềm tin và sự hiểu biết thiếu căn bản nhưng lại hay bắt chước của đa số dân chúng nên đã lái nhiều vấn đề “Tâm linh” thành “tín ngưỡng mù quáng” để trục lợi. Thực tế đã có những nghi thức vô nghĩa, những đồ lễ ngoại lai…khiến cho việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái trở nên bí hiểm, lắm thủ tục nhiêu khê, tốn kém. Điều này vừa thiệt cho tín chủ vừa ảnh hưởng đến xung quanh, đến xã hội!.

Ngược lại có một vài “Trí thức nửa vời”, các ông “quan cách mạng” nông cạn, học hành chắp vá lợi dụng việc này kiếm lời hay tỏ ra thành kiến, bôi bác và kết án, quá tả khi thực hiện chủ trương “Bài phong đả thực”, coi một số “Thuần phong mĩ tục” thành “mê tín dị đoan”. Vì thế có nơi, có lúc có người không dám thắp nhang, thờ cúng Tổ tiên; Chùa chiền, nhà Thờ, Ðình, Miếu, Từ Ðường, bàn thờ trong tư gia bị dẹp bỏ. Bởi thế việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái vốn thiêng liêng, giầu giá trị nhân văn bị hiểu lệch và làm sai trong thời gian dài.

Muốn phục hồi, phát huy giá trị tốt đẹp vốn có của nó, từng người, mỗi gia đình, dòng họ… cần có những hiểu biết nhất định sẽ vừa tránh mất tiền, vừa tránh vô tình làm giảm giá trị truyền thống lại giúp ích được nhiều cho bản thân, gia đình trong cuộc sống, công việc.

1. Bản chất:

Khổng Tử (孔子, còn gọi là Khổng Phu Tử 孔夫子, 551 – 479 TCN) trong Chương 第十九章 “Hiếu là nối chí cha ông” khi bàn về lòng hiếu thảo sáng suốt của Võ Vương 武王 và Chu Công 周公, cũng như phương pháp hữu hiệu mà các ngài đã dùng để cải hóa bàn dân đã nói: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã”. Nghĩa là: Thờ phụng lúc chết như thờ phụng lúc sống, thờ phụng khi mất như thờ phụng khi còn, mới là chí hiếu vậy! Mà đã “Thờ” thì phải “Cúng”, phải có “Lễ, Bái”. Đây là “Đạo hiếu”, là vấn đề trọng đại của mỗi người, gia đình, gia tộc, tôn giáo!

Tín ngưỡng, phong tục thờ cúng tổ tiên hay có người đã gọi là “Đạo Ông Bà” là tục lệ thờ cúng những người đã chết, đặc biệt là ông, bà, cha, mẹ của nhiều dân tộc Đông Nam Á và đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt. Hơn nữa, dân gian tin rằng “Hữu căn hữu kiếp”, có gốc rễ có kiếp sống, tức là có kiếp sống hiện tại là do gốc rễ của các kiếp sống trước tạo nên. Do vậy khi thành danh, có của ăn của để càng nhớ và cần báo ân tiền nhân.

Ngoài Tổ tiên, người Việt còn tin rằng các đấng siêu linh là Thần, Thánh, Phật, Trời cũng luôn ngự trị, theo sát độ trì cho mình trong mỗi công việc! Do vậy để tưởng nhớ Công Đức tiền nhân và đấng bề trên mà mình đã dâng trọn niềm tin cũng như kêu cầu khi cần sự trợ giúp của các “Đấng cao xanh” mà họ duy trì, quan tâm đến việc THỜ CÚNG LỄ BÁI. Đó là vấn đề Tâm linh, là niềm tin rằng người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau, là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm, cõi thực và cõi hư.

Hơn nữa ngay cả các nước công nghiệp phát triển nay ở đâu mà không còn Tôn giáo, Đức tin? Ở đâu cũng có đền, đài, tượng…; năm nào cũng có những ngày Lễ Kỷ niệm (Quốc khánh, Danh nhân, Sự kiện…). Mà trong các dịp đó thế nào chẳng có chào cờ, diễn văn, đón nhận phần thưởng; sự kiện lớn còn có cả diễu hành, duyệt binh trọng thể và sau phần “Lễ” là phần “Hội”. Thực chất đó cũng là hoạt động “THỜ CÚNG LỄ BÁI” song đã được “văn minh” hoá, “quốc gia hoá” và do chính quyển chỉ đạo tiến hành còn việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái tại gia, tại cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là do người dân tự giác duy trì theo tập tục truyền từ bao đời! Không lý gì lại không coi trọng điều thiêng liêng đầy tính nhân văn đó!

2. Mục đích:

Việc Thờ phụng, lễ bái được chăm lo bởi ai cũng tin rằng việc đó mang lại lợi lạc cho đời sống của mỗi người, mỗi gia đình, gia tộc, tôn giáo, làng xã, quốc gia. Suy cho cùng, đó là sự trở về nguồn, để tỏ lòng tri ân, để tu tâm, tích đức và giãi bày khi gặp trắc trở của mỗi người.

Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự tôn kính của mình với tiền nhân và với Thần, Thánh, Phật, Chúa, thể hiện rõ đạo lý “Trung, Tín, Hiếu”. Ngược lại, con mà không thờ Tổ Tiên là con bất Hiếu; dân mà không thờ Tổ quốc là kẻ bất Trung; tín đồ mà không thờ đức Giáo Chủ của mình là người bất Tín. Đừng có bảo đó là quan niệm thời phong kiến, ngay cả thời nay người như thế sẽ không có chỗ đứng trong nhân loại.

Cúng là dâng lễ vật lên thần thánh hoặc linh hồn người chết, theo tín ngưỡng hoặc theo phong tục cổ truyền. Gọi đủ là “Cúng dường”, đó là danh từ của Phật Giáo, được chuyển ngữ từ hai chữ “Cung dưỡng” 龔养 của tiếng Hoa.

– Cung Dưỡng: nghĩa là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dưỡng khi họ đói cơm rách áo…

– Cúng Dường: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh. Thế mà có người từng giảng cho tôi rằng “Cúng dường là nói trại từ cúng Giàng mà “Dàng” là từ cổ chỉ “Trời”.

Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tín ngưỡng. Nhưng đó không phải là tôn giáo vì không có giáo lý, không phụ thuộc vào quan điểm chính trị. Đã nói tới tín ngưỡng dĩ nhiên có vấn đề tin và không tin. Đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên là sự hiển nhiên, không có nghi vấn tin hay không tin. Sự thờ cúng chính là sự gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ linh thiêng. Đối với người Việt Nam, chết không có nghĩa là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn còn lui tới với gia đình. Thể xác thì tiêu tan, nhưng linh hồn thì bất diệt.

Giỗ là một buổi lễ, nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt quan trọng nhất trong việc thờ cúng Tổ tiên, nhằm tưởng nhớ đến những người đã mất. Theo tục lệ, ngày giỗ là “chung thân chi tang” có nghĩa là ngày tang trong suốt cả đời người. Mỗi năm vào đúng vào ngày chết của một người là một lần giỗ (còn gọi là “kỵ nhật”) thường được tính theo âm lịch, cho nên người xưa thường quan trọng ngày cúng giỗ ông bà cha mẹ. Ý nghĩa của giỗ là để nhắc nhở con cháu về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm của các thành viên trong cùng một gia đình, dòng họ, đôi khi trong cùng nghề. Trong đó Tổ nghề là một người có công lớn đối với một nghề nào đó hoặc giúp phát triển hoặc sáng tạo ra nghề đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập.

Không chỉ ngày giỗ, việc khấn cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng Một (朔日, Sóc nhật), ngày Rằm (朔望,Vọng nhật), và các dịp Lễ, Tết. Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử… hoặc gặp điều gì đó trắc trở, người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, che chở, dẫn dắt hậu thế hay để tạ ơn khi công việc thành công.

Với Tổ tiên và những đấng Tối cao vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống chỉ bằng “hương hoa” không giống như sự ăn uống của người thường và con cháu cúng dường là đem hương vị của món đồ dâng lên thành kính tưởng niệm để tri ân và báo ân rồi lại “thụ lộc” chứ có mất đi đâu. Nên không cần mâm cao cỗ đầy, bày vẽ tốn kém, cốt là tấm lòng và cách bầy xếp, khấn cầu!

3. Tác dụng:

Việc thờ cúng lễ bái nhằm nhớ và báo ơn những đấng sinh thành, những người đã từng hy sinh, đã giáo hoá tạo nên chúng ta cũng như gây dựng nên dòng họ, Tông Môn của mình hoặc tạo cho ta niềm tin trong cuộc sống.

Đồng thời việc làm đúng đắn nay giúp giáo dục con cháu về cội nguồn, thiêng liêng hóa Tông Đường để tự hào, tiếp nối sự nghiệp hiển vinh dòng họ, môn phái, quê hương, quốc gia….

Việc thờ cúng lễ bái có thể nhận được sự “Phù hộ độ trì” của Tiên Tổ, các Đấng Thần, Thánh đối với những người hành lễ. Khi đó đối tượng được thờ cúng sẽ che chở, bảo vệ, chữa trị cho đối tượng hành lễ khi gặp khó khăn, nguy hiểm, mắc bệnh hay ngăn ta làm điều ác, khuyến khích làm việc Thiện!

Đây còn là kết quả của quá trình sử dụng năng lực tâm linh thành kính, biến lễ vật hiến cúng thành dưỡng khí và chuyển dưỡng khí đó thành chất liệu dưỡng sinh để mang đến cho người mình cúng qua hệ thống tâm linh, năng lực cầu nguyện trên đường giây Tâm Linh thì người mình cúng sẽ được ảnh hưởng ngay. Và khi đó người mình cúng sẽ có khả năng phù giúp mình hiệu quả hơn!

Nhưng muốn phát huy được tác dụng của THỜ CÚNG LỄ BÁI thì điều cốt nhất là phải có Tâm thành, có đức Tin, phải Chân thật, cần Đúng cách!

4. Địa điểm:

Nhà thờ:
Làng xã có Am, Miếu, Ðền, Chùa, Nhà Nguyện, Nhà Thờ, Toà Thánh…; gia đình, gia tộc có nhà thờ họ, là những công trình kiến trúc dùng để thờ cúng và tiến hành việc lễ bái. Với Việt Nam, ta là nước có thể nói duy nhất có địa điểm thờ Quốc Tổ chung cả nước – đó là quần thể khu vực Đền Hùng.

Từ đường là nhà thờ tổ tiên của một dòng họ. Với mỗi gia đình việc thờ cúng ông bà, bố mẹ thường thực hiện tại nhà trưởng nam hoặc người lập tự và thực hiện đúng kỉ niệm ngày mất. Nay do con cái thường ở xa nới sinh thành và bận nhiều việc nên các năm thứ 5, 15, 25…gọi là giỗ chẵn, năm thứ 10, 20, 30…gọi là giỗ tròn sẽ làm lớn hơn, con cháu đông đủ; các năm khác con cháu ở xa có thể thực hiện nghi thức giỗ vọng hay có thể luân phiên từng nhà, từng khu vực để anh em rõ gia cảnh.

Nếu Chùa, Đền, Miếu, Phủ, Am thiên về tính Âm, là “vãng sinh đường” cho khách thập phương được đặt ở nơi u tịch, thâm nghiêm, cách chỗ quần cư thì Từ đường hay Gia đường lại mang tính Dương, nên dựng nơi gần con cháu.

Gian thờ:
Đối với người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo: không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà. Bàn thờ được đặt trong gian thờ.

Bản chất trường khí phòng thờ thuộc tính âm, hướng nội, không ưa sự phô trương. Ngay cả trong ngày giỗ hay tết thì thờ cúng cũng là việc riêng của gia đình đó, người ngoài muốn đến thắp nén nhang phải xin phép gia chủ. Về ngũ hành thì bàn thờ thuộc hành Hỏa và Mộc là hai hành hướng lên cao và cần sự chăm sóc mỗi ngày lại mang tính hướng nội, không cần phải đặt ngay trong phòng khách và theo phong thủy tốt nhất là đặt phòng thờ ở tầng áp mái. Hoặc đặt nơi trang trọng và cùng hướng hợp mệnh chủ.

Trong nhà ở dân gian truyền thống, bàn thờ cố định tại Trung Cung (khu vực trung tâm của nhà). Bước vào cửa chính có thể gặp bàn thờ và bộ bàn ghế tiếp khách hay chiếc sập ở gian giữa. Điều đó trở nên quen thuộc, hài hòa với cấu trúc không gian nhà ở truyền thống vốn có hàng hiên và sân vườn bao bọc.

Nhà ở hiện đại có diện tích và cấu trúc không gian khác xưa, điều kiện sống và quan niệm trong sinh hoạt nay cũng có nhiều thay đổi, cách bố trí bàn thờ trở nên đa dạng và cũng có nhiều vấn đề hơn. Nhà phố hiện nay phổ biến cách đặt phòng thờ trên tầng thượng, vừa thoáng khí vừa có khoảng rộng sân thượng để tập trung nhiều người vào các dịp giỗ tết, giảm các va chạm trong sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có một số gia đình không muốn đưa bàn thờ lên tầng cao với lý do: khó khăn cho người lớn tuổi khi chăm lo hương khói, quét dọn bàn thờ, và đặt lên cao quá sẽ có cảm giác xa cách. Không gian thờ cúng mang tính tâm linh luôn cần đặt yếu tố gần gũi và giáo dục truyền thống lên hàng đầu để kết nối các thế hệ và giữ vững gia phong nề nếp gia đình bên cạnh yếu tố hướng nội. Trường hợp quá khó khăn hoặc nhà trệt, căn hộ chung cư… thì có thể gắn bàn thờ liền với không gian phòng khách nhưng phải có giải pháp thoát khói và chống ố vàng trên trần (như dùng tủ thờ có nóc, dùng tấm kính ngăn phía trên, bàn thờ kề cận cửa thông gió…).

Như vậy tùy theo hoàn cảnh gia đình mà cách xếp phòng thờ, bàn thờ ở vị trí nào trong nhà cần linh hoạt phù hợp trên tinh thần trang nghiêm, ít bị ảnh hưởng bởi các sinh hoạt khác.

5. Đồ lễ:

Những vật phẩm bày ra khi thờ cúng còn được gọi là “lễ vật”, tượng trưng Tam bảo của con người là: Tinh (thể xác), Khí (chân thần), Thần (chân linh).

Vật không thể thiếu là nén hương, cách thắp hương thành tâm nên mới gọi là “Tâm hương” và luôn thắp với số lẻ để cắm vào bát hương.

Tiếp, khi cúng lễ bao giờ cũng có nến, nước, rượu, hoa quả, trầu cau, gạo, muối, cơm canh, vật phẩm mà khi sống người hưởng giỗ ưa thích cùng với những đồ tế lễ khác như tiền Địa phủ và mã (quần áo đồ dùng làm bằng giấy). Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt, được gọi là “hoá vàng”, còn chén rượu cúng thì đem rót xuống đống tàn vàng. Tục truyền rằng làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế, vì hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước – Lửa (âm dương) và Trời – Đất – Nước (Tam Tài) mang tính triết lý sâu sắc.

Những gia đình có điều kiện sẽ sắm đồ mặn tam sinh, gồm 3 con vật làm thịt cúng tế là: bò, lợn, dê hoặc trâu, lợn, dê hay có người hiểu là đủ gia súc, gia cầm và thuỷ cầm. To nhỏ tuỳ điều kiện nhưng bữa cúng cũng phải có chén cơm xới đầy có ngọn, úp lồng một cái chén khác lên trên gọi là chén cơm lồng cùng trứng gà luộc đã bóc vỏ dẹt ra trên đĩa với một ít muối. Vì thế mới có tên cúng giỗ là “cúng cơm”. Chú ý rằng thành ngữ “Vô vật bất linh” 無物不靈 thường dùng để chế giễu những ông quan tham nhũng, nếu không có lễ vật trọng hậu mang đến cho quan thì công việc không xong. Nhưng cũng là nói về việc cầu cúng, không có lễ vật thì cầu không thiêng. Đồ mặn sau khi hạ lễ sẽ được mọi người dự cúng “thụ lộc”.

Trong việc Thờ, việc Cúng, việc Giỗ thì làm to hay nhỏ, đồ lễ nhiều hay ít không quan trọng mà cốt là “Lễ bạc tâm thành”. Lễ vật đơn sơ nhưng lòng thành thật tín ngưỡng và thực hiện đúng nghi thức mới có hiệu quả.

Nghi thức là cách thức làm lễ cho đúng phép trong thờ cúng tuy không quá cầu kỳ nhưng đã được quy định rõ trong Thọ Mai Gia lễ. Trong đó đáng chú ý là ngày Tiên thường, Tiểu tường, Đại tường, Cát nhật, các vấn đề về Gửi giỗ, Phẩm vật, Văn khấn, Hóa vàng.

6. Tiến hành:

Trên bàn thờ đèn thờ được thắp trước, sau đó là thắp nhang rồi mới sắp đặt đồ lễ. Khi đồ lễ đã đủ và đặt lên ban thờ, gia trưởng quần áo chỉnh tề, xem xét và rà soát lại các lễ vật có đầy đủ rồi mới bước vào chiếc chiếu trải trước bàn thờ, lễ bốn lạy, quỳ xuống, hai tay chắp lại vòng ngang trán. Đó là “Cúc cung bái”, là cúi mình lạy xuống.

Một trong hai người chấp sự, thường là em hay con cháu gia trưởng, đứng hai bên bàn thờ, lấy ba nén hương châm lửa thắp, đưa cho gia trưởng vái một vái dài rồi trao lại đem cắm lên bát hương. Đó là “Tiến tước”.

Người chấp sự thứ hai mở nút bình rượu, rót rượu lên ba chén để trên đài thực hiện nghi thức “Tiến tửu” . Xong đâu vào đó rồi gia trưởng làm lễ khấn.

Hiện nay, do trang phục, do không gian thờ cúng…để đơn giản gia trưởng tự thắp hương (luôn là số lẻ) cắm vào bát hương, lui ra đứng tước ban thờ vái 3 vái rồi đọc văn khấn. Khi khấn xong lễ 4 lễ thêm 3 vái gọi là 4 lễ rưỡi. Tiếp theo các thành viên khác trong gia đình đến trước ban thờ 4 lễ rưỡi. Nghi thức 4 lễ rưỡi thực hiện bằng 3 vái dài, 3 vái ngắn.

Khách đến dự, con cháu cử người nhận đồ lễ đặt lên ban thờ, đứng đáp lễ; khách thực hiện 4 lễ rưỡi rồi quay sang vái người đáp lễ.

Người Việt ta có câu: “Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó”, do vậy cần phải hiểu về tài ý nghĩa và tác dụng của lễ bái.

7. Lễ Bái:

Lễ:
Về ngữ nghĩa, “Lễ” 禮 chính là khuôn mẫu, là cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, nó còn là những quy tắc nhất định về sắp đặt, trình tự trong Quan (冠 chào mừng đứa bé mới ra đời), Hôn (婚 lễ thức hôn nhân của gia đình),Tang (喪 nghi thức tiễn đưa một người về chầu tiên tổ) và Tế (祭 hình thức tế lễ để tưởng nhớ ông bà tổ tiên) nhằm thể hiện sự tôn kính.

Về nội dung, nó bao gồm:

Hình thức: là sự trang trí, trưng bày cho một biểu tượng mà qua đó ta có thể phân biệt được “Lễ” đó thuộc về gia tộc, sắc tộc, tôn giáo, Quốc gia nào.

Lễ Phẩm: là những phẩm vật mà con người muốn dâng lên các vị mà họ tôn thờ, hay mong cầu một sự trợ giúp và thông qua đó người ta có thể biết được tính chất của buổi lễ (tức mục đích của nghi lễ) mà kẻ hành lễ mong cầu.

Nghi thức: là phương cách hành Lễ tùy theo hình thức bài trí và phẩm vật dâng lễ mà qua đó người ta có thể phân biệt được tính chất của buổi lễ cũng như nhận biết được sắc thái của những thành phần mà người tổ chức thuộc về sắc dân nào, dân tộc nào, quốc gia nào, và mục đích của buổi lễ mong cầu những gì. Và phần nghi thức này luôn luôn bao gồm những nghi thức “Bái”.

Bái:
Trong quá trình tiến hành nghi thức Lễ có hành vi “bái”. “Bái” là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính; là hành động của con người thực hành tham gia trong buổi Lễ.

Mỗi buổi Lễ có những phương cách “Bái” riêng, tùy theo truyền thống hay có cải cách, sửa đổi theo thời gian, theo sở thích của người chủ xướng đề đặt thêm. Nhưng có những phương thức như sau:

Ðứng Bái: (Vái, Lạy) đứng làm lễ và tùy theo phong tục tập quán khác nhau mà động tác Bái có khác nhau.

Qùy Bái: (Lạy) qùy làm lễ nhưng cũng tùy theo phong tục tập quán mà động tác thực hành cũng khác nhau.

Ngồi Bái: (Tọa Tụng,Vái, Lạy) với nhiều cách thực hành khác nhau theo phong tục tập quán riêng.

Hành Bái: (Bái, Lạy trong những nghi thức rước lễ) cũng có những cách thực hành khác nhau, tùy theo hình thức lễ lạc, tùy theo mỗi tôn giáo.

Ngoài ra còn có những thể cách kết hợp các phương thức trên như đứng lên qùy xuống mới thực hành xong một động tác của Bái…

Tìm Kiếm Phổ Biến:

  • Bàn về thờ cúng trong gia đình hiện nay
  • những điều cần biết về thế giới tâm linh
  • những điều cần biết khi giúp lễ
  • nen tho cung to tien nhung gi
  • làm lễ tam sinh ở đâu
  • Khoa cúng bí truyền cổ xưa
  • hiểu biết về thờ cúng
  • cung xong co nen de lai le tren ban tho khong
  • cách cúng bái tâm linh
  • tam linh tho cung

Add Your Comment